Kế toán Hỏi đáp kế toán

Câu hỏi 560: Tổng hợp các câu hỏi vướng mắc về kế toán

vacpa.org.vn - Thứ hai, 04/07/2011 In bài

Câu hỏi 560:

Các câu hỏi vướng mắc về kế toán được giải đáp trong cuộc Tọa đàm giải đáp vướng mắc về kế toán, kiểm toán ngày 24/06/2011, tại Hà Nội. (Phần 1)

CÂU HỎI VÀ TRẢ LỜI VỀ KẾ TOÁN

Câu hỏi 1:

Công ty chúng tôi đang áp dụng chế độ kế toán ban hành kèm theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, các Thông tư số 106/2008/TT-BTC ngày 18/11/2008, Thông tư số 206/2009/TT-BTC ngày 27/10/2009, Thông tư số 244/2009/TT-BTC ngày 31/12/2009 của Bộ Tài chính và tuân thủ 26 Chuẩn mực kế toán Việt Nam đã được ban hành.

Công ty chúng tôi hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh Bất động sản, trong năm 2010 Công ty chủ yếu tập trung đầu tư dự án có quy mô lớn và dài hạn, hình thành nên các bất động sản để bán và kinh doanh cho thuê.

Trong quá trình hạch toán, chúng tôi thấy vướng mắc chưa rõ, kính đề nghị Ông/ Bà giải đáp thắc mắc và hướng dẫn phương pháp hạch toán một số nghiệp vụ kinh tế phát sinh như sau:

1.   Các bất động sản hình thành qua quá trình đầu tư dự án để bán hoặc kinh doanh cho thuê được xác định là “Hàng tồn kho” theo Chuẩn mực số 02 hay là “Bất động sản đầu tư” theo Chuẩn mực số 05?

2.   Tập hợp tất cả các chi phí của dự án để xây dựng thành các bất động sản để bán hoặc kinh doanh cho thuê được hạch toán vào tài khoản nào, vào tài khoản 154 – Chi phú sản xuất kinh doanh dở danh hay vào Tài khoản 241 – Xây dựng cơ bản dở dang?

3.   Kính đề nghị Ông/ Bà hướng dẫn đầy đủ phương pháp hạch toán kế toán của nghiệp vụ này.

Trả lời:

1.   Việc kế toán bất động sản hình thành trong quá trình đầu tư dự án để bán được thực hiện theo Chuẩn mực kế toán số 02 – Hàng tồn kho. Theo đó việc tập hợp chi phí liên quan trực tiếp tới quá trình xây dựng bất động sản được phản ánh trên tài khoản 154 – Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang.

2.   Việc kế toán bất động sản hình thành trong quá trình đầu tư dự án để cho thuê được thực hiện theo Chuẩn mực kế toán số 05 – Bất động sản đầu tư. Theo đó việc tập hợp chi phí liên quan tới quá trình xây dựng bất động sản được phản ánh trên tài khoản 241 – Xây dựng cơ bản dở dang.

3.   Các bút toán kế toán cho việc tập hợp chi phí xây dựng và kinh doanh bất động sản đã được quy định trong Chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành. Đề nghị Quý Công ty nghiên cứu, thực hiện.

BBT

Câu hỏi 2:

Hướng dẫn trích lập dự phòng các khoản đầu tư tài chính dài hạn:

Tổng công ty CP Bia Rượu nước giải khát Sài Gòn (SABECO) là Tổng công ty CP hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con từ thời điểm 01/5/2008, trong quá trình hạch toán kế toán kiến nghị việc lập dự phòng các khoản đầu tư tài chính dài hạn như sau:

Căn cứ vào mục 2, điều C của Thông tư 228/2009/TT-BTC ngày 07/12/2009 của Bộ Tài chính “các khoản vốn DN đang đầu tư vào tổ chức kinh tế khác…phải trích lập dự phòng nếu tổ chức kinh tế mà DN đang đầu tư bị lỗ…Căn cứ đề lập dự phòng khi vốn góp thực tế của các bên tại tổ chức kinh tế lớn hơn vốn chủ sở hữu thực có tại thời điểm báo cáo tài chính của tổ chức kinh tế”.

Tuy nhiên do đặc thù, khi nhận bàn giao từ Tổng công ty Nhà nước các khoản đầu tư vào công ty con, liên doanh, liên kết và đầu tư tài chính dài hạn khác đều được đánh giá lại tại thời điểm cổ phần hóa và giá trị đầu tư tại Tổng công ty (công ty mẹ) đều cao hơn giá gốc và giá trị vốn thực tế của tại các doanh nghiệp mà SABECO đang đầu tư.

Đơn cử một trường hợp tại Công ty CP Bia Sài Gòn Miền Trung – Công ty liên kết của SABECO:

a.   Vốn đầu tư của SABECO tại Công ty CP Bia Sài Gòn Miền Trung theo Báo cáo tài chính thời điểm 31/12/2009: 106.972.472.408 đồng

b.   Vốn góp của SABECO ghi trên BCTC của Công ty CP Bia Sài Gòn Miền Trung thời điểm 31/12/2009 (MS 411 x tỷ lệ sở hữu của SABECO): 298.466.480.000 đồng x 30,99% = 92.499.160.000 đồng

c.   Chênh lệch (a-b): 14.473.312.408 đồng

d.   Trong năm 2009 doanh nghiệp mà SABECO đang đầu tư có lãi và giá trị vốn đầu tư của SABECO tính theo phương pháp vốn chủ sở hữu tại Công ty CP Bia Sài gòn Miền Trung thời điểm 31/12/2009: 305.819.728.304 đồng x 30.99% = 94.778.039.998 đồng

e.   Chênh lệch đánh giá theo phương pháp vốn chủ sở hữu là: 106.972.472.408 đồng – 94.778.039.998 đồng = 12.194.432.410 đồng

Theo quy định của Thông tư 228/2009/TT-BTC ngày 07/12/2009 của Bộ Tài chính, năm 2009 Tổng công ty không được trích lập khoản dự phòng giảm giá đầu tư này do doanh nghiệp do SABECO đang đầu tư có lãi; Tuy nhiên trên thực tế do giá trị đầu tư trên sổ sách của SABECO cao hơn vốn thực góp của SABECO tại Công ty CP Bia Sài Gòn Miền Trung như đã nêu trên, nếu Tổng Công ty không lập dự phòng thì không bảo toàn được giá trị 12.194.432.410 bị tổn thất.

Để thực hiện công tác hạch toán kế toán đúng quy định và bảo toàn vốn nhà nước (chiếm 89.58% vốn điều lệ), đề nghị Ông/bà hướng dẫn, xử lý hạch toán đối với các trường hợp đặc thù này.

Trả lời:

Theo khoản 2 – Điều 5 – Thông tư số 228/2009/TT-BTC: “Các khoản vốn doanh nghiệp đang đầu tư vào tổ chức kinh tế khác được thành lập theo quy định của pháp luật như Công ty Nhà nước, Công ty TNHH, Công ty Cổ phần, Công ty hợp danh … và các khoản đầu tư dài hạn khác phải trích lập dự phòng nếu tổ chức kinh tế mà doanh nghiệp đang đầu tư bị lỗ (trừ trường hợp lỗ theo kế hoạch đã được xác định trong phương án kinh doanh trước khi đầu tư”.

Căn cứ quy định trên, việc SABECO đề nghị trích lập dự phòng đối với các khoản đầu tư tài chính dài hạn có giá trị ghi sổ cao hơn giá trị phần vốn nắm giữ tại các công ty con, công ty liên kết, liên doanh do nguyên nhân SABECO đánh giá lại các khoản đầu tư tài chính dài hạn tại thời điểm chính thức chuyển sang công ty cổ phần là không có cơ sở pháp lý.

BBT

Câu hỏi 3:

1.   Vào này 19/09/2008, nhà máy VMEP Hà Tây bị hỏa hoạn do chập điện (kết luận điều tra số 44-KLĐT/PC14 của Cơ quan cảnh sát điều tra thuộc Công an Thành phố Hà Nội), cháy phần kho chứa linh kiện, hàng thành phẩm, văn phòng và kho chứa tài liệu. Về việc này, chúng tôi đã tiến hành gửi công văn báo cáo sự việc với Cục thuế Hà Nội.

2.   Tổn thất do cháy của nhà máy VMEP tại Hà Tây là rất lớn và gồm nhiều hạng mục nên quá trình thẩm định, xác định bồi thường của Công ty Bảo hiểm Bảo Việt đã kéo dài đến ngày 15/10/2010. Ngay sau khi nhà máy VMEP Hà Tây chúng tôi kết thúc vụ việc với Công ty Bảo hiểm Bảo Việt, chúng tôi đã lập công văn gửi Cục thuế Hà nội báo cáo tổng giá trị tổn thất do sự cố cháy này (giá trị tổn thất, thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, tài sản theo từng hạng mục), và đề nghị được Cục thuế Hà Nội hướng dẫn một số vấn đề sau:

-      Cách tính thuế GTGT của hàng bị cháy như thế nào vì hàng hóa bị tổn thất do cháy bao gồm cả linh kiện, tài sản mua ngoài và linh kiện, xe máy thành phẩm do nhà máy sản xuất?

-      Phần thuế GTGT của hàng hóa, tài sản bị thiệt hại có được khấu trừ hay không?

-      Cách ghi nhận tổn thất về giá trị (trước thuế GTGT) & thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, tài sản bị thiệt hại như thế nào?

3.   Ngày 21/1/2011, chúng tôi nhận được Công văn của Cục thuế Hà Nội trả lời như sau:

-      “… Công ty có số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, tài sản cố định mua vào thiết bị thiệt hại do cháy, hỏa hoạn thì không được khấu trừ…”.

-      “…Về việc ghi nhận, hạch toán tổn thất về giá trị (trước thuế ) và thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, tài sản bị thiệt hại đề nghị công ty liên hệ với Vụ CĐKT&KT – Bộ Tài chính để được hướng dẫn cụ thể”.

Trả lời:

Về nguyên tắc, giá trị của hàng hóa và thuế GTGT của hàng hóa bị tổn thất không được bồi thường được hạch toán vào giá vốn hàng bán, giá trị của tài sản và thuế GTGT của tài sản bị tổn thất không được bồi thường được hạch toán vào chi phí khác.

Về phương pháp hạch toán đối với việc ghi nhận tổn thất về giá trị và thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, tài sản bị thiệt hại do hỏa hoạn, đề nghị Công ty nghiên cứu và thực hiện theo quy định của Chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006.

BBT

Câu hỏi 4:

Doanh nghiệp chúng tôi khi lập báo cáo tài chính có những vướng mắc sau:

1.   Chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo Quyết định số 15 (Chế độ kế toán 15) quy định “Nội dung và phương pháp lập báo cáo tài chính” trong Phần tài sản ngắn hạn – các khoản tương đương tiền (Mã số 112) quy định:

“2 – Các khoản tương đương tiền (Mã số 112)

Chi tiêu này phản ánh các khoản đầu tư ngắn hạn có thời hạn thu hồi hoặc đáo hạn không quá 3 tháng có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành một lượng tiền xác định và không có rủi ro trong chuyển đổi thành tiền kể từ ngày mua khoản đầu tư đó tại thời điểm báo cáo. Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là số dư Nợ chi tiết của Tài khoản 121 “Đầu tư chứng khoán ngắn hạn” trên sổ chi tiết TK 121, gồm: kỳ phiếu ngân hàng, tín phiếu kho bạc … có thời hạn thu hồi hoặc đáo hạn không quá 3 tháng kể từ ngày mua”

Quyển 1 – Chế độ kế toán 15 quy định:

Tài khoản 121 “Đầu tư chứng khoán ngắn hạn”

“Tài khoản này dùng để phản ánh tình hình mua, bán và thanh toán chứng khoán (Cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu…) có thời hạn thu hồi không quá một năm hoặc mua vào, bán ra chứng khoán để kiếm lời.

Chứng khoán đầu tư ngắn hạn bao gồm:

-      Cổ phiếu có thể giao dịch trên thị trường chứng khoán;

-      Trái phiếu gồm trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ;

-      Các loại chứng khoán khác theo quy định của pháp luật”.

Tài khoản 1281 – Tiền gửi có kỳ hạn: Phản ánh tình hình tăng, giảm và số hiện có của tiền gửi có kỳ hạn.

Vậy xin hỏi:

1. Tại ngày lập Báo cáo tài chính, số dư tiền gửi có kỳ hạn (TK 1281) dưới 3 tháng có được ghi vào chỉ tiêu “2-Các khoản tương đương tiền (mã số 112)” của Bảng cân đối kế toán không? Nếu ghi vào chỉ tiêu này có sai với quy định của Chế độ kế toán 15 không?

Trường hợp Báo cáo tài chính đã được kiểm toán, số dư Tiền gửi có kỳ hạn (TK 1281) dưới 3 tháng đã ghi vào chỉ tiêu “2-các khoản tương được tiền (Mã số 112” của Bảng cân đối kế toán thì Báo cáo tài chính có phải điều chỉnh lại không?

2.   Điều lệ mẫu ban hành theo Quyết định số 15/2007/QĐ-BTC ngày 19/3/2007 của Bộ Tài chính có đoạn:

“Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ

Hàng năm, Công ty sẽ phải trích từ lợi nhuận sau thuế của mình một khoản vào quỹ dự trữ để bổ sung vốn điều lệ theo quy định của pháp luật. Khoản trích này không được vượt quá 5% lợi nhuận sau thuế của Công ty và được trích cho đến khi quỹ dự trữ bằng 10% vốn điều lệ của Công ty”.

Vậy xin hỏi:

Khi trích khoản này doanh nghiệp sẽ phải ghi vào tài khoản nào trong “Hệ thống tài khoản kế toán” ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính?

Trả lời:

1/         Về chỉ tiêu “2-các khoản tương đương tiền (Mã số 112):

Tại Đoạn 4 chuẩn mực kế toán số 24 “Báo cáo lưu chuyển tiền tệ” quy định: “Tương đương tiền: Là các khoản đầu tư ngắn hạn (không quá 3 tháng), có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành một lượng tiền xác định và không có nhiều rủi ro trong chuyển đổi thành tiền”.

Theo quy định trên, số dư tiền gửi có kỳ hạn (TK 1281) dưới 3 tháng sẽ được ghi vào chỉ tiêu “2- Các khoản tương đương tiền (Mã số 112)” tại ngày thành lập Báo cáo tài chính.

2/         Về việc trích “Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ”:

Khi trích Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, ghi:

Nợ TK 421 – Lợi nhuận chưa phân phối

            Có TK 414 – Quỹ đầu tư phát triển

BBT

Câu hỏi 5:

Công ty TNHH Nam Thắng có nhận vận chuyển hàng hóa từ TP HCM, giao hàng tại Hà Nội. Khoảng 20h ngày 21/10/2011, xe đang bắt đầu leo đèo Cù Mông, Sông Cầu, Phú Yên thì bị tai nạn cháy xe, hậu quả hàng hóa và phương tiện đã bị thiệt hại hoàn toàn.

Đây là tai nạn rủi ro hỏa hoạn, bất khả kháng và không thể lường trước được nhưng Công ty Nam Thắng vẫn phải bồi thường thiệt hại cho khách hàng với trị giá rất lớn. Theo yêu cầu của khách hàng thì Công ty Nam Thắng phải trả bằng tiền mặt hoặc khấu trừ vào cước vận chuyển hàng trước đây Công ty Nam Thắng đã vận chuyển mà khách hàng chưa thanh toán hoặc trừ dần vào cước vận chuyển hàng sẽ thực hiện trong thời gian tới.

1.   Công ty Nam Thắng có được đưa số tiền bồi thường thiệt hại cho khách hàng để tính vào chi phí hợp lý để xác định kết quả kinh doanh hay không?

2.   Hướng dẫn hồ sơ, chứng từ để đưa vào chi phí hợp lý.

3.   Định khoản, hạch toán tài khoản liên quan vào các nghiệp vụ phát sinh:

-      Sơ đồ xác định chi phí bồi thường thiệt hại cho khách hàng (có Biên bản thỏa thuận bồi thường giữa hai bên)

-      Sơ đồ nộp tiền mặt bồi thường cho khách hàng.

-      Sơ đồ khách hàng trừ vào tiền cước vận chuyển hàng hóa

-      Sơ đồ chi phí bồi thường thiệt hại được kết chuyển từng năm hay đưa toàn bộ một lần chi phí để xác định kết quả kinh doanh.

Trả lời:

Trả lời Quý công ty về việc hạch toán chi phí bồi thường thiệt hại tai nạn cháy xe vận chuyển hàng hóa, Chúng tôi có ý kiến như sau:

1.   Về việc xác định nghĩa vụ bồi thường thiệt hại: Công ty cần căn cứ vào Hợp đồng kinh tế đã ký kết giữa hai bên để xác định trách nhiệm bồi thường.

2.   Việc xác định giá trị bồi thường phải được thực hiện trên cơ sở là phần chênh lệch giữa giá trị tài sản, hàng hóa phải bồi thường với số tiền bảo hiểm cho tài sản, hàng hóa bị tổn thất (nếu có) mà công ty nhận được.

3.   Về hồ sơ đối với tài sản, hàng hóa bị tổn thất được tính vào chi phí được trừ khi xác định thuế TNDN: Đề nghị Công ty thực hiện theo quy định tại Mục a, Khoản 2, Điều 1 Thông tư số 18/2011/TT-BTC ngày 10/2/2011 của Bộ Tài chính.

4.   Về hạch toán kế toán: Chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành kèm theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng kinh tế được phản ánh trên Tài khoản 811 – Chi phí khác và được hạch toán cụ thể như sau:

Nợ TK 811 – Chi phí khác

            Có TK 111, 112 – Trường hợp khoản tiền phạt được thanh toán bằng tiền mặt hoặc tiền gửi ngân hàng

            Có TK 131 – Phải thu của khách hàng (Trường hợp khoản tiền phạt được trừ vào tiền khách hàng còn nợ)

Việc xác định chi phí hợp lý khi tính thuế TNDN đề nghị Quý Công ty thực hiện theo quy định hiện hành của Pháp luật về Thuế.

BBT

Câu hỏi 6:

Ngày 02/4/2010, Công ty CP Bất động sản Điện lực dầu khí Việt Nam (PVL) và Công ty CP Xây dựng Minh Ngân đã tiến hành chuyển nhượng cổ phần của PVL tại Công ty CP Dịch vụ Xuyên Thái Bình Dương theo Hợp đồng số 66/PVPL-MN/2010.

Thực hiện theo Hợp đồng, Công ty CP Xây dựng Minh Ngân đã thanh toán cho PVL 100 tỷ đồng, số còn lại là 91,72 tỷ đồng phải thanh toán trước ngày 28/4/2010. Toàn bộ số cổ phần thuộc sở hữu của PVL tại Công ty CP Dịch vụ Xuyên Thái Bình Dương đã được chuyển sang cho Công ty CP Xây dựng Minh Ngân. Công ty CP Xây dựng Minh Ngân đã đứng tên sở hữu số cổ phần của PVL trên Giấy phép đăng ký kinh doanh của Công ty CP Dịch vụ Xuyên Thái Bình Dương. PVL đã nhiều lần gửi văn bản đề nghị Công ty CP Xây dựng Minh Ngân thanh toán nốt số tiền còn lại tuy nhiên Công ty Xây dựng Minh Ngân vẫn chưa thanh toán và đến nay không có khả năng thanh toán do đại diện pháp luật của Công ty CP Xây dựng Minh Ngân là Ông Lê Hòa Bình (Chủ tịch HDDQT Công ty ) đang bị cơ quan pháp luật tạm giam để điều tra.

Trước tình hình đó, để đảm bảo quyền lợi, PVL đã khởi kiện Công ty CP Xây dựng Minh Ngân đến Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội để hủy Hợp đồng, theo đó nhận lại cổ phần chuyển nhượng và trả lại tiền cho Công ty CP Xây dựng Minh Ngân.

Ngày 03/8/2010, PVL đã có văn bản gửi Cục cảnh sát điều tra C46 thông báo về việc khởi kiện Công ty CP Xây dựng Minh Ngân để hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng cổ phần số 66/PVPL-MN/2010.

Lợi nhuận từ hợp động chuyển nhượng cổ phẩn Công ty CP Dịch vụ Xuyên Thái Bình Dương của Hợp đồng trên PVL đã hạch toán vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Quý II/2010.

Căn cứ Thông tư 228/2009/TT-BTC ngày 07/12/2009 của Bộ Tài chính, Tổng Giám đốc Công ty đã có tờ trình Hội đồng quản trị về việc trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi của hoạt động chuyển nhượng cổ phần này. Tuy nhiên, HĐQT Công ty đã có văn bản trả lời không đồng ý trích lập khoản dự phòng và yêu cầu Ban Tổng Giám đốc triển khai thực hiện đúng Nghị quyết số 32/PVPL/NQ-HĐQT ngày 25/10/2010 về việc phê duyệt phương án hủy hợp đồng chuyển nhượng cổ phần số 66/2010/PVPL-MN.

PVL xin hỏi trong trường hợp nêu trên, PVL có phải trích lập dự phòng khoản nợ phải thu khó đòi này không? Trong trường hợp kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2010 của Công ty bị lỗ thì có phải trích lập khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi này hay không?

Trả lời:

Trả lời câu hỏi của Công ty CP BĐS Điện lực dầu khí Việt Nam về việc trích lập dự phòng khoản nợ phải thu khó đòi, chúng tôi có ý kiến như sau:

Theo điểm 1 – Điều 6 – Thông tư số 228/2009/TT-BTC ngày 7/12/2009 của Bộ Tài chính thì các khoản nợ phải thu khó đòi “là các khoản nợ phải thu đảm bảo các điều kiện sau:

-      Khoản nợ phải có chứng từ gốc, có đối chiếu xác nhận của khách nợ về số tiền còn nợ, bao gồm: hợp đồng kinh tế, khế ước vay nợ, bản thanh lý hợp đồng, cam kết nợ, đối chiếu công nợ và các chứng từ khác.

-        Có đủ căn cứ xác định là khoản nợ phải thu khó đòi:

+  Nợ phải thu đã quá hạn thanh toán ghi trên hợp đồng kinh tế, các khế ước vay nợ hoặc các cam kết nợ khác

+ Nợ phải thu chưa đến thời hạn thanh toán nhưng tổ chức kinh tế (các công ty, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, tổ chức tín dụng …) đã lâm vào tình trạng phá sản hoặc đang làm thủ tục giải thế; người nợ mất tích, bỏ trốn, đang bị các cơ quan pháp luật truy tố, giam giữ, xét xử, đang thi hành án hoặc đã chết”.

Trường hợp khoản nợ phải thu của công ty thỏa mãn các điều kiện nêu trên thì được trích lập dự phòng phải thu khó đòi theo qui định tại Thông tư 228/2009/TT-BTC.

BBT

Câu hỏi 7:

Công ty A thực hiện góp vốn để thành lập cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát bằng giá trị quyền thuê đất với tỷ lệ góp vốn là 50% (hợp đồng thuê đất có thời hạn và trả tiền thuê hàng năm). Tại thời điểm góp vốn, giá trị quyền thuê đất được ghi nhận vào vốn góp của cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát (thành lập pháp nhân mới – Công ty B) và giá trị đánh giá lại quyền thuê đất được các bên góp vốn thông nhất cao hơn so với giá trị trên sổ kế toán là 85 tỷ đồng (giá trị trên sổ kế toán tại Công ty A là 0 đồng).

Tại Thông tư 244/2009/TT-BTC tại ngày 31/12/2009 của Bộ Tài chính có quy định:

Trên Báo cáo tài chính riêng của bên góp vốn liên doanh, khi góp vồn bằng tài sản vào cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát, bên góp vốn liên doanh phải ghi nhận toàn bộ phần chênh lệch giữa đánh giá lại (do các bên thỏa thuận) lớn hơn giá trị ghi sổ của tài sản phi tiền tệ mang đi góp vốn liên doanh vào thu nhập khác.

Trên Báo cáo tài chính hợp nhất, bên góp vốn liên doanh phải phản ánh hoãn lại và ghi nhận là doanh thu chưa thực hiện đối với phần lãi do góp vốn bằng tài sản tương ứng với phần lợi ích của mình trong liên doanh.

Tuy nhiên, thông tư 244/2009/TT-BTC nêu trên chưa có quy định về việc ghi nhận đối với chênh lệch đánh giá lại quyền thuê đất có thời hạn tại bên nhận vốn góp liên doanh (Công ty B). Chúng tôi xin hỏi: Chênh lệch do đánh giá lại quyền thuê đất có thời hạn khi góp vốn liên doanh (thành lập cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát) được hạch toán như thế nào tại bên góp vốn liên doanh (Công ty A) và bên nhận góp vốn liên doanh (Công ty B)?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 11 Luật Đất đai năm 2003, doanh nghiệp có hợp đồng thuê đất có thời hạn và trả tiền thuê hàng năm thì không thuộc đối tượng được góp vốn bằng giá trị quyền thuê đất.

BBT

Câu hỏi 8:

Theo Thông tư số 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008, phần B, mục 5 có nêu: “Doanh nghiệp có doanh thu, chi phí, thu nhập chịu thuế và thu nhập tính thuế bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh thu, chi phí, thu nhập chịu thuế và thu nhập tính thuế bằng ngoại tệ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”

Chúng tôi hiểu trường hợp pháp luật có quy định khác ở đây là Chuẩn mực kế toán VN số 10 “Ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái” trong đó có nêu “Một giao dịch bằng ngoại tệ phải được hạch toán và ghi nhận ban đầu theo đơn vị tiền tệ kế toán bằng việc áp dụng tỷ giá hối đoái giữa đơn vị tiền tệ kế toán và ngoại tệ tại ngày giao dịch. Tỷ giá hối đoái tại ngày giao dịch được coi là tỷ giá giao ngay. Doanh nghiệp có thể sử dụng tỷ giá xấp xỉ với tỷ giá hối đoái thực tế tại ngày giao dịch”.

Để phản ánh chính xác doanh thu nguồn ngoại tệ bằng VNĐ, doanh nghiệp chúng tôi mong muốn được sử dụng tỷ giá giao dịch thực tế của Ngân hàng Vietcombank tại thời điểm ghi nhận doanh thu để chuyển đổi và hạch toán doanh thu xuất khẩu như theo quy định tại Chuẩn mực kế toán VN số 10.

Chúng tôi mong nhận được ý kiến của Ông/bà về việc áp dụng tỷ giá giao dịch thực tế của Ngân hàng Vietcombank nói trên.

Trả lời:

Trả lời câu hỏi về việc tỷ giá hạch toán doanh thu xuất khẩu.

1.   Việc áp dụng Chuẩn mực kế toán số 10 - Ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá là cho mục đích kế toán tài chính, không áp dụng cho mục đích tính thuế.

2.   Về tỷ giá dùng để hạch toán: Doanh nghiệp sử dụng tỷ giá hối đoái tại ngày giao dịch (là tỷ giá giao dịch thực tế của nghiệp vụ kinh tế phát sinh hoặc tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố) để ghi nhận doanh thu phát sinh bằng ngoại tệ.

Tỷ giá hối đoái tại ngày giao dịch được coi là tỷ giá giao ngay. Doanh nghiệp có thể sử dụng tỷ giá xấp xỉ với tỷ giá hối đoái thực tế tại ngày giao dịch như tỷ giá trung bình tuần hoặc tháng có thể được sử dụng cho tất cả các giao dịch phát sinh của mỗi loại ngoại tệ trong tuần, tháng đó. Nếu tỷ giá hối đoái giao động mạnh thì doanh nghiệp không được sử dụng tỷ giá trung bình cho việc kế toán của tuần hoặc tháng kế toán đó.

vacpa.org.vn

Các tin mới

Tin cũ hơn

Gửi Email cho bạn bè

Bạn có thể dùng mẫu bên dưới để gửi thông tin đến cho bạn bè và người thân. Mỗi email được cách nhau bởi dấu “,”

  • Form gửi email
  • Họ tên (*)
  • Email của bạn (*)
  • Email người nhận (*)
  • Tiêu đề (*)
  • Nội dung (*)
  • Mã xác nhận (*)  Captcha
  •   Bỏ qua
  • Lưu ý : Những ô có chứa (*) là thông tin bắt buộc